Tin tức sự kiện

VICMC tham dự Hội thảo Góp ý các Dự thảo Quy định chi tiết thi hành Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án

Giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại bằng hòa giải đang trở thành một xu hướng trên thế giới và Việt Nam bởi những ưu điểm của phương thức này về thời gian, chi phí, khả năng duy trì mối quan hệ giữa các bên và mức độ bảo mật thông tin.

Chủ tịch VICMC - Luật sư Nguyễn Hưng Quang đại diện VICMC góp ý Dự thảo tại Hội nghị

   Tại Việt Nam, số liệu thống kê khảo sát của Bộ Tư Pháp, phương thức giải quyết tranh chấp mà các doanh nghiệp, cá nhân ưu tiên sử dụng lần lượt là thương lượng (57,8%), Toà án (46,8%), hoà giải (22,8%) và cuối cùng là trọng tài (16,9%). Để hoàn thiện hơn trong việc thi hành luật hòa giải, đối thoại tòa án, hội thảo góp ý các dự thảo quy định chi tiết thi hành luật hòa giải, đối thoại tại tòa án sẽ được tổ chức vào sáng 12/06 vừa qua.

 Với mong muốn Dự thảo Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án đi vào cuộc sống, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp và bảo vệ được tính chính danh, liêm chính của Toà án, cũng như hài hoà với các quy định pháp luật khác, Chủ tịch VICMC - Luật sư Nguyễn Hưng Quang sẽ đại diện VICMC tham dự hội thảo với những góp ý về quy định chi tiết về điều kiện bổ nhiệm, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hòa giải viên (Điều 10, 11 và 12 Luật), trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên (Điều 18 Luật) cụ thể như sau:

1. Điều kiện bổ nhiệm, bổ nhiệm và bổ nhiệm lại hoà giải viên (Điều 10, 11, và 12 của Luật)

a. Điều kiện bổ nhiệm (Điều 10)

Theo quy định tại Điều 10, các đối tượng có thể được bổ nhiệm được phân loại thành 3 nhóm như sau:

  • Thẩm phán - Nhóm có kinh nghiệm xét xử (bao gồm vấn đề pháp lý và giải quyết tranh chấp) và kiến thức pháp luật tốt.
  • Kiểm sát viên, Thẩm tra viên, Thư ký toà án, Chấp hành viên, Thanh tra viên – Nhóm có kinh nghiệm giải quyết vấn đề pháp lý, tranh chấp, vấn đề quản lý nhà nước và kiến thức pháp luật tốt.
  • Luật sư – Nhóm có kinh nghiệm giải quyết vấn đề pháp lý, tranh chấp và kiến thức pháp luật tốt.
  • Chuyên gia, nhà chuyên môn khác nhà có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác; người có hiểu biết về phong tục tập quán, có uy tín trong cộng đồng dân cư – Nhóm có thể kinh nghiệm giải quyết tranh chấp, có kiến thức trong lĩnh vực khác và không có kiến thức pháp luật tốt.

Việc phân loại đối tượng sẽ giúp cho xây dựng các điều kiện cụ thể để có thể lựa chọn được những người phù hợp tham gia vào công tác hoà giải tại Toà án. Mỗi nhóm đối tượng có những thế mạnh đặc thù trong việc thực hiện hoà giải. Tuy nhiên, việc mở rộng nhiều nhóm đối tượng làm công tác hoà giải sẽ gặp phải những thách thức sau cho ngành Toà án:

  • Khả năng hiểu biết pháp luật ở mức độ tối thiểu để bảo đảm quá trình thực hiện hoà giải, nội dung hoà giải và văn bản thoả thuận hoà giải không bị vi phạm vào điều cấm của luật, xâm phạm lợi ích của bên thứ ba...
  • Khả năng hiểu biết tính chuyên nghiệp, tính vô tư, khách quan và độc lập của hoà giải viên
  • Khả năng quản lý và xử lý trách nhiệm đối với những đối tượng khác nhau;
  • Khả năng đào tạo, tập huấn kỹ năng hoà giải.

Xét bối cảnh việc tuyển chọn hoà giải viên trên khắp cả nước với những đặc điểm của mỗi nhóm đối tượng khác như trên, Toà án phải tính đến việc tuyển chọn mở rộng để bất kỳ người nào thuộc các nhóm đối tượng nêu cũng “có thể” trở thành hoà giải viên tại Toà án thay vì phương án Toà án mỗi cấp lập danh sách hoà giải viên của Toà án mình. Cơ chế mở này giống với cơ chế công nhận quản tài viên của Luật Phá sản 2014.

Tuy nhiên, để những đối tượng nêu trên trở thành hoà giải viên thì những điều kiện sau cần quy định rõ ràng:

  • “Có kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải, đối thoại”: điều kiện này yêu cầu ứng viên phải có giấy xác nhận của một đơn vị, tổ chức có chức năng hoặc thẩm quyền về giải quyết tranh chấp bằng hoà giải xác nhận, như uỷ ban nhân dân cấp xã đối với hoà giải cơ sở, trung tâm hoà giải thương mại hoặc trung tâm trọng tài thương mại đối với hoà giải thương mại, Sở Lao động đối với hoà giải lao động, Toà án đối với các hoà giải viên trong dự án thí điểm...
  • “Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại do cơ sở đào tạo của Tòa án nhân dân tối cao cấp”: điều kiện này yêu cầu ứng viên phải tham gia một khoá học bắt buộc và phải thi đạt yêu cầu của chương trình học. Chương trình học về hoà giải cần phải lưu ý tới đặc điểm mỗi nhóm đối tượng nêu trên để bảo đảm các hoà giải viên đạt yêu cầu có được năng lực cần thiết cho công tác hoà giải.

Phương án mở rộng đối tượng tuyển chọn làm hoà giải viên có khả năng bảo đảm tuyển chọn được đủ số lượng, hạn chế được các yếu tố ảnh hưởng tới tính liêm chính trong quá trình tuyển chọn.

b. Bổ nhiệm (Điều 11):

Theo quy định tại Dự thảo Luật, Hoà giải viên sẽ được Toà án bổ nhiệm (Điều 11) và được cấp thẻ hoà giải viên (Điều 7). Với những quy định như vậy, có thể hiểu Tòa án chịu trách nhiệm đối với toàn bộ mọi hoạt động, hành vi của Hoà giải viên. TANDTC cần xác định rõ đây là (i) quan hệ sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động; hoặc (ii) quan hệ hợp đồng dịch vụ theo quy định Bộ luật Dân sự. Sự xác định rõ mối quan hệ pháp luật này vì liên quan đến:

  • Các chế độ về tiền công, tiền lương, thù lao, bảo hiểm bắt buộc... theo các quy định pháp luật tương ứng;
  • Phạm vi chịu trách nhiệm của Toà án đối với các hành vi do Hoà giải viên xác lập trong quá trình thực hiện hoà giải, đối thoại; và
  • Cơ chế bảo đảm uy tín và sự liêm chính khi các Hoà giải viên thực hiện các công việc hoà giải theo các “phương thức linh hoạt” (Điều 3) mà không phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng.

Như đã nêu ở trên, để có thể hạn chế được những tiêu cực có thể xảy ra  cho ngành Toà án, TANDTC nên xây dựng cơ chế “bổ nhiệm” theo hướng đơn giản hoá mọi thủ tục bổ nhiệm, tương tự với cơ chế đăng ký của quản tài viên.

Đồng thời, để tránh phải chịu những trách nhiệm phát sinh từ hoạt động của hoà giải viên trong những thời gian không thực hiện công tác hoà giải tại Toà án, TANDTC nên quy định rõ ràng về cấp, sử dụng, thu hồi thẻ Hòa giải viên theo hướng “thẻ Hoà giải viên được chỉ được sử dụng trong những phiên hoà giải tại Toà án. Thẻ không được phép sao chụp hoặc sử dụng bên ngoài hoạt động hoà giải tại Toà án”. Nếu không quản lý chặt chẽ việc sử dụng thẻ, rủi ro về lạm dụng “thẻ ngành” gây ảnh hưởng tới uy tín của Toà án.

c. Bổ nhiệm lại (Điều 12):

Cơ chế bổ nhiệm lại tại Dự thảo Luật khá phức tạp đối với những người đang là hoà giải viên tại Toà án và hoàn thành tốt công tác hoà giải. Ngoài ra, cơ chế bổ nhiệm lại cũng cần phải được làm rõ thêm một số vấn đề sau:

  • Tiêu chí xác định “không hoàn thành nhiệm vụ”, như: hoà giải không thành, từ chối hoà giải khi được phân công, không có bất kỳ một vụ hoà giải nào... Tiêu chí này cần phải gắn với quy trình phân công hoà giải của Toà án, như phân công theo năng lực hay phân công theo ngẫu nhiên...
  • Tiêu chí “Thuộc 10% Hòa giải viên mà trong 02 năm Hòa giải viên đó có mức độ hoàn thành nhiệm vụ thấp nhất so với các Hòa giải viên khác tại nơi họ làm việc, cần được thay thế” cũng cần được làm rõ thế nào là “thấp nhấp”.
  • Cần xây dựng mẫu “Báo cáo về quá trình thực hiện công tác hòa giải, đối thoại của Hòa giải viên” để hạn chế tình trạng vi phạm nghĩa vụ của hoà giải viên về bảo mật thông tin hoà giải theo quy định tại Điều 14.
  • Cần xây dựng mẫu “Nhận xét, đánh giá của Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc về quá trình thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại” để hạn chế khả năng tạo áp lực của Toà án đối với hoà giải viên, ảnh hưởng tới tính vô tư, khánh quan, độc lập của hoà giải viên.

2.Trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên (Điều 18)

a. Cơ chế chấp thuận hoà giải viên không thuộc danh sách tại Toà án nơi làm việc (Khoản 7).

Dự thảo quy định “Văn bản chỉ định Hòa giải viên được gửi cho Hòa giải viên và các bên tham gia hòa giải, đối thoại. Trong trường hợp Hòa giải viên được lựa chọn làm việc ở Tòa án khác thì văn bản này cũng phải được gửi cho Tòa án nơi Hòa giải viên đó làm việc (Điều 18 Khoản 7)

Cơ chế lựa chọn Hoà giải viên không thuộc danh sách Hoà giải viên của Toà án giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 15 Khoản 2 đã chỉ rõ: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được thông báo lựa chọn Hòa giải viên của các bên, Hòa giải viên được lựa chọn phải có ý kiến bằng văn bản đồng ý hay không đồng ý gửi Thẩm phán phụ trách công tác hòa giải, đối thoại nơi giải quyết vụ việc, Tòa án nơi mình làm việc và các bên.”

Như vậy, việc yêu cầu Toà án nơi giải quyết tranh chấp phải gửi thêm “văn bản chỉ định Hòa giải viên cũng phải được gửi cho Tòa án nơi Hòa giải viên đó làm việc” sẽ làm phát sinh thêm chi phí và thủ tục hành chính (như chi phí soạn văn thư, chi phí gửi văn thư, chi phí lưu trữ văn thư) cho Toà án chỉ định Hoà giải viên và cho cả “Toà án nơi Hoà giải viên đó làm việc”. Ngoài ra, quy định “Toà án nơi Hoà giải viên đó làm việc phải có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với sự chọn của Hoà giải viên gửi Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và Hoà giải viên” (Điều 15 khoản 3.b và khoản 4.b) cũng làm gia tăng các chi phí về hành chính và “hành chính hoá” hoạt động lựa chọn hoà giải viên. Ngoài ra, dù Dự thảo đã quy định thời gian mà “Toà án nơi Hoà giải viên đó làm việc” phải trả lời “trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo lựa chọn Hoà giải viên” thì cũng là một khoảng thời gian chưa thực sự được xác định rõ ràng vì khoảng thời gian di chuyển của “thông báo” không được xác định. Mặc dù, “thông báo” này chỉ là di chuyển trong nội bộ giữa các “Toà án cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ của Toà án cấp tỉnh”.

Do đó, đề xuất nên quy định một thủ tục hành chính đơn giản nhất với thời hạn rất rõ ràng để thuận tiện cho đương sự, hoà giải viên và Toà án. 

b. Bảo đảm quyền lựa chọn hoà giải của người bị kiện.

Dự thảo quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án theo quy định tại khoản 7 Điều này, nếu người bị kiện không đồng ý tiến hành hòa giải, đối thoại thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết để Tòa án chuyển đơn để xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng.” (Khoản 8)

Quy định nêu trên có thể gặp khó khăn trong quá trình thực hiện khi người bị kiện “không trả lời” là có chấp nhận phương án hoà giải hay không? Phương án “không trả lời” cần phải được xác định rõ một trong hai tình huống: (i) không đồng ý hoặc (ii) đồng ý. Một số vấn đề sau cần cân nhắc:

  • Nếu xác định là “không đồng ý” thì có thể mâu thuẫn với quy định của Luật “không đồng ý tiến hành hoà giải, đối thoại thì phải thông báo bằng văn bản”;
  • Nếu xác định là “đồng ý” thì có thể ảnh hưởng tới quyền lựa chọn phương án hoà giải của đương sự. Đối với những tranh chấp mà đương sự sống tại những nơi khó khăn trong việc gửi văn bản thì khoảng thời gian 3 ngày phải có văn bản trả lời sẽ là tương đối ngắn.

Để xử lý tạm thời những vấn đề nêu trên, tình huống 2 có thể chấp nhận theo hướng nếu hoà giải viên và Toà án vẫn tiến hành hoà giải dù bên bị kiện chưa có ý kiến. Nếu bên bị kiện vắng mặt đến lần thứ 2 thì xử lý theo quy định tại Điều 19. Còn nếu bên bị kiện tới hoà giải và chấp nhận hoà giải thì tiến hành hoà giải. Tuy nhiên, Toà án cần có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của Thẩm phán, hoà giải viên trong việc giải thích quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoà giải theo Luật này (Điều 8). Khác với hoà giải thương mại, các bên tham gia hoà giải tại toà án sẽ có nhiều người không có khả năng nhận biết những ưu điểm và nhược điểm của phương thức hoà giải với phương thức giải quyết tranh chấp bằng tố tụng (như người thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa...).  Do đó, cần thiết phải xây dựng được một quy trình hoà giải rõ ràng để bảo đảm quyền lợi của họ.

 

Luật sư Nguyễn Hưng Quang, Chủ tịch VICMC


Nội dung khác

Hội thảo “Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng và giải quyết phá sản doanh nghiệp”

Ngày 09 tháng 10 năm 2020, Trung tâm Hòa giải Thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC) phối hợp cùng Bộ Tư Pháp và Câu Lạc Bộ Luật Sư Thương Mại Quốc Tế (VBLC) tổ chức Hội thảo “Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng và giải quyết phá sản doanh nghiệp” tại Thành phố Hồ Chí Minh.

VICMC THÔNG BÁO VỀ VIỆC TRIỂN KHAI DỊCH VỤ HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhằm hỗ trợ các bên mong muốn được hoà giải tranh chấp một cách an toàn, hiệu quả và tiết kiệm, Trung tâm Hòa giải Thương mại Quốc tế Việt Nam VICMC thông báo về việc thực hiện các thủ tục hòa giải trực tuyến, đặc biệt là thực hiện các phiên hòa giải trực tuyến.

VICMC TIẾP TỤC TUYỂN 01 THƯ KÝ LÀM VIỆC TẠI HÀ NỘI

Để tăng cường nhân lực Ban thư ký, Trung tâm hòa giải thương mại quốc tế Việt Nam (VICMC) tiếp tục tuyển dụng 1 thư ký làm việc tại văn phòng ở Hà Nội. Hạn nộp hồ sơ: 15/08/2020

HỌC KỸ NĂNG HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI ĐỂ HÒA TRONG THẾ THẮNG

Khi các doanh nghiệp bắt tay nhau đi đến thỏa thuận thương mại cùng phát triển thì cũng là lúc những tranh chấp tiềm ẩn và cần có cơ chế giải quyết phù hợp khi phát sinh. Khác với thương lượng, Tòa án hay Trọng tài, hòa giải vẫn còn là một phương án lựa chọn khá mới mẻ tại Việt Nam khi những quy định chi tiết lần đầu tiên được điều chỉnh bởi Nghị định 22/2017/NĐ-CP.

Tổng kết “Hội thảo Hòa giải thương mại – Lựa chọn hiệu quả cho giải quyết tranh chấp”

Ngày 19/06/2020 vừa qua, Trung tâm Hòa giải thương mại quốc tế Việt Nam (VICMC) cùng Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã tổ chức hội thảo “Hội thảo Hòa giải thương mại – Lựa chọn hiệu quả cho giải quyết tranh chấp” tại Hà Nội trong khuôn khổ Tuần lễ trọng tài và hòa giải thương mại Việt Nam 2020 (VAW 2020).

VICMC BẢO TRỢ CHUYÊN MÔN TẠI HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN NGÀNH LUẬT 2020

Hội nghị khoa học sinh viên ngành Luật năm 2020 với chủ đề “Các vấn đề pháp lý mới về thương mại, đầu tư trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” đã diễn ra vào sáng ngày 05/06/2020 tại Đại học Ngoại thương.